Khuyên Người Niệm Phật 01 – Quyết lòng niệm Phật

Share on facebook
Share on twitter

KHUYÊN NGƯỜI NIỆM PHẬT
Tác Giả: Cư sĩ Diệu Âm
Phật lịch năm 2547 / Dương lịch năm 2003

 

QUYẾT LÒNG NIỆM PHẬT

 

Cha má kính, 

…. Con qua Pháp hai tháng về, nhận được thư cha la rầy về việc tu hành. Đọc thư cha mà con buồn đến rơi nước mắt, con muốn ngồi xuống viết thư nhưng không biết sao nước mắt con cứ trào ra, ……

 Thưa cha má, vì thương cha má mà con cố gắng khuyên cha má tu hành, con tưởng cha má nghe được sẽ mừng lắm. Không ngờ, cha chưa đọc kỹ thư xem con nói những gì, lời thư của con có điều gì trái với đạo lý không, mà lại mạnh lời nói con bị tà ma dụ dỗ, theo tà ma ngoại đạo. Con khóc không phải vì giận hờn gì cả, nhưng con khóc vì thực sự nếu cha không thèm nghe lời con, cứ để tâm nóng giận thì chắc rồi đây con cũng chỉ đành thương cha má mà rơi lệ thôi chứ biết làm sao hơn, vì con không thể cứu cha má được. Dù thương cha má đến đâu con cũng chỉ có khóc mà tiếc thương thôi chứ không thể làm gì khác hơn, ví dụ như bây giờ cha có thương bà nội, ông nội, thì cha cũng chỉ có khóc thôi chứ đâu có thể cứu ông bà được. Thương cha mẹ, không phải đợi lúc chết khóc cho nhiều là có hiếu, không phải chỉ lo một vài bữa ăn ngon là đủ đâu. Huệ mạng con người đâu ngắn ngủi trong vòng bảy mươi, tám mươi năm đâu cha má? 

Thưa cha má, nếu cha má đóng cửûa lòng không chịu nghe lời khuyên của con thì chắc sau một vài lá thư nữa, nếu cha má không đổi, lúc đó cha má có muốn con viết thư nói thêm một lời nữa con cũng không viết. Nhưng dù sao trước khi quyết định dứt khoát không đá động gì đến chuyện tu hành nữa, con cũng vì trọn lòng hiếu thảo, nói cho hết lời. Nếu có sự may mắn, có được thiện căn, cha má và con cùng nhau hội về Tây-phương Cực-lạc một nhà, đời đời gần nhau. Còn như duyên nợ của cha má và con chỉ có đời này thôi thì chắc không trước thì sau cũng đành chia tay, đường ai nấy đi. Lúc đó có nhớ thương nhau cũng chỉ mượn tấm hình làm kỷ niệm rồi cũng sẽ tan biến theo thời gian thôi. Chứ biết làm sao bây giờ! Ví dụ như cha má có biết ông bà nội bây giờ đang ở đâu không?!!… 

Thưa cha má, lá thư này con nói thật cái căn bản về sự tu hành của con, rồi tự cha má nghĩ sao thì nghĩ. Con đang theo tà đạo hay chính đạo, tùy ý cha má! Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thị hiện thế gian để lại tám vạn bốn ngàn (84.000) pháp môn vi diệu để đối trị với vô lượng phiền não nghiệp chướng của chúng sanh. Trong kinh Phật nói rõ ràng rằng, Phật pháp trụ lại thế gian một vạn hai ngàn năm (12.000) và chia làm ba thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp, sau kỳ mạt pháp thì Phật pháp diệt tận. Thời kỳ chánh pháp một ngàn năm sau khi Phật nhập diệt, thời tượng pháp một ngàn năm, còn lại mười ngàn năm là thời kỳ mạt pháp. Như vậy chúng ta đang ở vào ngàn năm thứ ba sau khi Phật nhập Niết bàn, nghĩa là ngàn năm đầu của thời kỳ mạt pháp. Phật pháp còn trụ lại thế gian hơn chín ngàn năm nữa. Sau chín ngàn năm, Phật pháp hoàn toàn không còn trên thế gian, cho đến khi đức Phật Di Lặc xuống trần thị hiện thành Phật dưới cây Long Thọ, mở hội Long Hoa xây lại Phật pháp, (gần sáu trăm triệu năm nữa mới xuống). Đây là kinh của Phật để lại nói như vậy. 

Trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, tựu trung lại cũng chỉ là Thiền-tông, Mật-tông và Tịnh-độ tông.  

Thiền-tông là pháp môn “Trực chỉ nhân tâm, Minh tâm kiến tánh, Kiến tánh thành Phật”, chỉ hợp với hạng thượng căn, chư Bồ-tát, chư vị Tổ sư trong thời chánh pháp và nửa thời tượng pháp mà thôi.  

Mật-tông được truyền qua vùng Tây-Tạng, và những quốc gia có những địa lý thiên nhiên đặc biệt, họ dùng đến mật chú để phá trừ phiền não, trị ma oán, tịnh thân khẩu ý để tu hành.  

Còn Tịnh-độ-tông là pháp môn tối vi diệu! Bốn mươi chín năm thuyết pháp giảng kinh, Phật Thích-ca Mâu-ni quy tụ chúng sanh về với pháp môn này để cứu độ tất cả chúng sanh, không phân biệt đẳng cấp, cảnh giới, ứng hợp với cả chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Nhất là thời kỳ mạt pháp, chư Phật đều khuyên chúng sanh nên một lòng theo Tịnh-độ tông mà tu thì sẽ đạt được kết quả.  

Tịnh-độ tông là gì? Là pháp môn NIỆM PHẬT cầu vãng sanh về Tây-phương Cựclạc. Niệm Phật là đi thẳng về cõi Phật, làm cho tâm mình thời thời, khắc khắc là Phật. Lấy thẳng nhân địa Phật để tu thành Phật. Vì là pháp môn rất dễ tu cho nên không ai chịu tin. Vì thế, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni phải đợi sau cùng, khi thấy căn duyên thành Phật của chúng sanh thành thục rồi, Ngài mới thuyết trong những bộ kinh A-di-đà, Vô-Lượng-Thọ, Quán-VôLượng-Thọ…  

Pháp môn Niệm Phật vi diệu không thể tưởng tượng được, trong kinh gọi là “bất khả tư nghì”. Cho nên, hầu hết chùa chiền Phật giáo ngày nay tại Việt-nam, Trung-Hoa, và các nơi đều lấy sự niệm Phật làm căn bản tu hành. Dù là Thiền-tông, hình thức thọ trì có khác nhau nhưng nội dung không khác. Nơi nào có phép thực hành triệt để thì nơi đó cứu độ nhiều người, nơi nào áp dụng hời hợt thì khó thấy được kết quả, thậm chí có nhiều nơi áp dụng sai nữa là khác, từ đó làm cho lòng người hoang mang, mất lòng tin nơi Phật pháp!  

Cha tu theo đạo Cao-Đài, tốt lắm, con có nói đụng chạm gì tới đâu. Cha đã tụng thuộc kinh Cao-Đài rồi, thì chắc chắn cha còn nhớ câu: “Một lòng Niệm Phật ăn chay làm lành”. Niệm Phật là pháp môn Tịnh-độ. Kinh đã dạy mình rằng: ngày ngày, ngày này sang ngày khác, thời thời, khắc khắc, phải niệm câu Phật hiệu “Nam-mô A-di-đà-Phật”, vì đây chính là cứu cánh cuối cùng để tu hành được giải thoát. Chỉ vì mình lơ là không chú ý đến, chỉ vì nhiều nơi cho đó là thứ yếu thành ra chỉ chạy theo cái ngọn, không chịu bắt cái gốc. Cho nên, con mới nói, không biết tu chỉ uổng phí công phu tu hành, để rồi cuối cùng đọa lạc vẫn hoàn đọa lạc là như vậy, chứ con có nói gì sai với kinh điển đâu!  

Niệm Phật, ăn chay, làm lành, ba vấn đề trong kinh Cao-Đài, ở đây con chỉ nhấn mạnh đến niệm Phật mà thôi vì hai thứ kia là phụ thuộc, vì ăn chay được thì tốt, không ăn được vẫn tu được như thường. Còn làm lành thì hôm nay khỏi bàn, vì nếu đã biết niệm Phật thì dù có đem tiền mướn mình làm ác mình cũng không làm, cho nên bàn tới để làm gì? Như vậy, xin hỏi tại sao lại nói con bị tà ma gạt, dụ dỗ?!!! 

Thưa cha má, trong việc tu hành có câu rằng, “Tu suốt kiếp, ngộ nhất thời”, tu hành trọn kiếp nhiều người không thấy gì hết, không biết mình sẽ đi về đâu? Nhưng khi đã ngộ, thì một tích tắc thời gian người ta đã ngộ rồi. Như vậy, ngộ hay không, không hẳn tu lâu hay mới tu, mà tùy thuộc rất nhiều vào căn cơ và duyên phận. Ví dụ, như có người cứ muốn bơi qua một biển rộng mênh mà cứ tự cố sức bơi hoài, bơi mãi, nhưng bơi làm sao tới bờ! Sức người quá yếu đuối, bơi đến chết chìm luôn mà cũng còn ráng bơi, trong khi đó trên một chiếc thuyền có người đưa tay xuống cứu mình lên, mà nhiều khi mình còn nghi ngờ là họ gạt mình không chịu lên thuyền. Bên cạnh có người thành tâm cầu cứu, họ đưa tay lên, họ được cứu, nhờ chiếc thuyền đó họ qua bờ bên kia dễ dàng như chơi! Chiếc thuyền đó là gì chắc cha má đã rõ hơn con! Xin cha má xem kỹ trong kinh Phật sẽ thấy rõ ràng. Chính là Đức Phật A-di-đà! 

Việc tu hành nhiều đường nhiều nẻo, chứng hay không còn coi lại thiện căn phước đức của mình và có cơ duyên hay không. Thế gian này thiếu gì người đệ tử đắc đạo trước sư phụ rồi phải trở về độ lại cho thầy mình. Có nhiều người chỉ tu một thời gian rất ngắn mà được ngộ đạo. Lục Tổ Huệ Năng không tu hành nhiều, không biết chữ, không biết đọc, suốt đời làm nghề đốn củi rồi về nhà giã gạo, nhưng vừa thoáng nghe pháp Ngài ngộ đạo tức thì, được truyền y bát làm Tổ. Tất cả lời giảng của Ngài đã trở thành kinh gọi là Pháp Bảo Đàn Kinh, trong khi đó pháp sư Thần Tú, là một vị giáo thọ, hàng ngày thuyết kinh, giảng pháp cho hơn năm trăm chư Tăng Ni tu hành, ở sát bên sư phụ mà không được truyền y-bát. Cho nên, nếu có đủ thiện căn kết tập từ nhiều đời nhiều kiếp rồi, thì khi duyên đến, một câu cũng đủ cho người ta ngộ đạo. Niệm Phật để thành Phật, một pháp môn vi diệu, có thể giải thoát chỉ trong một đời này, nhưng dễ gì cho người ta tin tưởng! Cho nên, tùy theo thiện căn của mỗi người. Hễ phước đức thiện căn có, vừa nghe là ngộ liền, còn không đành chịu thua. 

Thưa cha má, về thế gian pháp thì đời này con là con của cha má. Nhưng về kiếp trước, vô lượng kiếp về trước, ai biết được? Còn vô lượng kiếp về sau thì sao? Phải chăng, thưa cha má, đường ai nấy đi! Cha tu cha đắc, má tu má đắc, con tu con đắc. Hễ khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm. Vì thương cha má, lòng hiếu thảo của con chỉ muốn cha má được hưởng cái phước báu vô cùng to lớn mà con đã thấy được trong đời, nên mới mau mau khuyên giải, chứ chậm trễ sợ không kịp, thế thôi. Thương cha má đâu phải chờ khóc cho nhiều để cho người ta thấy mình thương. Đâu phải chỉ lo cấp dưỡng cha má cho nhiều để hưởng thụ một vài năm, rồi sau đó mặc cha má đi đâu thì đi! 

…. Hơn mười năm qua con đến khắp hết các chùa, nhưng con không muốn quy y Tam Bảo, vì thực sự chưa có duyên?! Đến khi con theo phái đoàn Tăng Ni và Phật tử chùa Phật

Đà (của người Việt Nam) đến thăm chùa của người Hoa, khi bước vào đại điện, vừa nghe tiếng niệm Phật, con có cảm ứng rất mạnh, con đã thấy ngay đường đi lập tức. Con quy y ngay đêm đó, sau đó hằng ngày đều tới chùa niệm Phật, dù rằng họ nói tiếng Hoa con không hiểu gì cả, nhưng thật sự con đã tìm được nơi của chính tâm con mong muốn. Sau một thời gian ngắn, chúng con đều phát tâm ăn chay trường và quyết lòng niệm Phật cầu sanh Tâyphương Cực-lạc.  

Đây là đường giải thoát con đã lựa chọn và phải đi. Trong thư này con sẽ nói một vài sự nhiệm mầu cho cha má nghe. Nếu cha má tin, con sẽ lần lượt kể cho cha má nghe thêm sau này, còn không tin thì đành thôi vậy. Con xin nói thực rằng, huệ mạng mình chỉ có Phật mới cứu được, ngoài Phật ra khó tìm đâu có chỗ nương tựa. Sau đây là một vài chuyện nho nhỏ: 

Ngay trong gia đình của Ngọc, bà nội suốt đời niệm Phật A-di-đà. Bà chỉ thờ tượng Phật A-di-đà, đến lúc lâm chung bà biết được ngày giờ ra đi. Một bữa nọ, bà không ăn cơm, con cháu mời đi ăn, bà nói: không thèm ăn nữa. Suốt một đêm bà nằm niệm Phật không ngủ. Sáng hôm sau bà tắm rửa sạch sẽ rồi kêu tất cả con cháu tới, bà nhìn từng người, khuyên nhủ tu hành niệm Phật. Khuyên xong bà an nhiên tự tại vãng sanh. Khi đi hương thơm bay ra cả nhà nhiều cũng đều ngửi thấy. Hồi đó, con cháu cứ tưởng bà ở hiền nên chết lành. Sau này nghe giảng kinh chúng con mới biết, vì bà đã niệm Phật mà được vãng sanh về Tây-phương Cực-lạc. Bà đã thoát được sanh tử luân hồi chỉ trong một đời tu hành! Còn có gì quí hơn! 

Chuyện đó qua rồi, còn đây là chuyện hiện tại của Ngọc. Vợ con có chứng đau đầu kinh niên không sao cứu được, vì hồi giờ con không muốn cho cha má hay đó thôi. Nhưng khi bị bệnh mà bác sĩ đã bó tay làm con cũng buồn không tưởng được. Đầu của vợ con hễ cứ đụng tay tới là đau không chịu nổi. Nhiều lúc rờ tới tóc cũng đau. Mỗi đêm tốn cả nửa chai dầu để xoa cho dịu bớt, (chứ không còn cách nào khác!). Đi bác sĩ, họ không tìm ra được căn nguyên. Họ cứ cho thuốc giảm đau, hễ khi đau thì uống cho dịu lại thôi chứ biết sao bây giờ. Uống một thời gian, không bớt nên cũng liệng luôn.  

Đến khi đến được Niệm Phật Đường này, thầy Ngộ Thông dạy rằng đó là nghiệp của mình nó phát ra như vậy. Thầy khuyên, chí tâm niệm Phât thì có thể hết. Thế là nàng thành tâm niệm Phật, niệm khoảng ba tháng tự nhiên chứng bệnh nan y biến mất luôn hồi nào không hay, tới bây giờ hoàn toàn không còn đau gì nữa cả. Ngọc liền phát tâm tu hành và đi đâu cũng khuyên người ta niệm Phật. 

Ở bên Pháp có một bác sĩ người Việt-Nam, du học hơn bốn mươi năm trước, làm nghề bác sĩ gần bốn mươi năm. Ngài đã thọ giáo với Hòa thượng Thích Huyền Vi tu hơn tám năm, nay pháp hiệu là Thích Trí Tu. Đi đâu thầy cũng chỉ khuyên Phật tử niệm Phật. Hai tháng tu học, tuần nào con cũng nghe thầy giảng về niệm Phật. Thầy nói, “là một bác sĩ lão thành trong nghề, tôi nói rằng chỉ có Phật A-di-đà mới cứu được chúng ta. Những người bị bệnh ung thư nếu thành tâm niệm Phật đều được cứu, còn đi theo bác sĩ tức là chờ chết…”. Bà ngoại của bé Tùng vừa mới chết vì ung thư. Ung thư bác sĩ đành chịu bó tay. 

Con biết có người hẹn lại ngày lâm chung, có người xin đi sớm hơn thời hạn, có người Việt Nam ngồi xếp bằng ra đi sáu tháng sau thân vẫn mềm mại tự nhiên như đang thiền định. Phật tử xin chính phủ giữ thân lại để thờ mà không được, có người để lại hàng trăm viên ngọc xá lợi, có người ra đi còn dặn đừng đem chôn, và đứng chắp tay hướng về hướng sư phụ mà thoát hóa rồi đứng im như vậy chờ sư phụ về lo hậu sự… Họ coi cái thân này như một chiếc áo cũ, còn mình không biết tu nên sợ chết đến hết hồn hết vía! Nhưng sau cùng có trốn được không? Họ không phải chết mà là tự tại đi về Tây-phương với Phật. Họ biết rõ về đâu, họ đã đắc đạo trong một đời này chứ không phải nhiều đời nhiều kiếp. Con có thể kể cha má nghe hàng loạt sự nhiệm mầu nho nhỏ như vậy nhưng thư có hạn, nếu cha má muốn, con sẽ kể tiếp sau này. Tất cả đều là sự thực. 

Như vậy, con tu là tu đạo Phật chứ không phải tu tà đạo. Cha má cứ lục tất cả thư con viết, đọc lại thử coi có thư nào con nói tu theo tà ma quỷ quái không, mà cha cho con là bị dụ dỗ.  

Còn về Khổng học, Tứ-Thư, Ngũ-Kinh… con học đã thuộc lòng từ lúc còn ở trường đại học Văn khoa Sài gòn. Vì phải hiểu và học thuộc lòng để thi làm sao con không biết, nhưng cha má nên biết đâu là phép tu rốt ráo để giải thoát, đâu là cách sống làm người để rồi vẫn phải lăn lộn trong vòng sinh tử luân hồi, khổ bất khả ngôn. Con có bao giờ chống đối cách sống làm người đâu?  

Còn cha nói, “Con người là vật chí linh”, thì linh lợi hơn con vật mà thôi, chứ đâu phải đối với Phật Bồ-tát, với chư Thánh Thần. Làm được người chứng tỏ đời trước có tu. Nhưng làm được người rồi mà không khéo tu, vô ý tạo nghiệp, thì liệu đời sau có còn trở lại làm vật “chí linh” đối với loài vật nữa hay không?  

Vì lý luận rằng con người là vật chí linh cho nên họ mặc sức làm ác, mặc sức giết hại chúng sanh, mặc sức tạo nghiệp. Cha má nhìn quanh coi biết bao nhiêu người làm ác: trộm cướp, giết người, gian lận, sân si, thị phi, hơn thua… liệu tương lai họ tránh được địa ngục không? Họ có trốn thoát khỏi lạc vào loài súc sanh, ngạ quỷ không? Lúc đó họ còn dám vỗ ngực tự xưng là hàng chí linh của vạn vật nữa không? Đã gọi là vật chí linh tại sao họ lại còn làm như vậy?!!  

Cho nên, nói rằng căn tánh con người có tánh chí linh thì đúng, nhưng nói người nào cũng thành chí linh thì không đúng! Sáng suốt mới linh, không sáng suốt thì mê ám.  

Phật dạy, tất cả ai ai cũng có Phật tánh, nhưng tỉnh ngộ mới thành Phật, còn mê thì vẫn là chúng sanh triền miên vô lượng kiếp. Như vậy, muốn thành Phật phải học Phật. Tu hành, phải học kỹ kinh pháp và thực hành đúng theo kinh Phật và chọn lựa pháp môn thích hợp với mình, vì có tới tám mươi bốn ngàn pháp môn, nhưng không phải pháp môn nào cũng dễ dàng đưa mình tới chỗ giải thoát đâu.   

Vì sao vậy? Mỗi pháp môn trị một căn bệnh phiền não. Tám mươi bốn ngàn pháp môn trị tám mươi bốn ngàn thứ phiền não trong tâm. Kinh tạng, ví như nhà thuốc tây, pháp môn là vị thuốc. Cứ vào nhà thuốc tây thấy thuốc nào cũng uống, thì trở ngại ráng chịu chứ không thể đổ thừa cho thuốc dở được. Tu hành giống như vậy, tu đúng pháp môn thì mình giải thoát trong một đời. Tu pháp môn không hợp căn cơ mình sẽ lăn lộn trong cõi ác trược này vô lượng kiếp mà chưa chắc sẽ thoát khỏi khổ nạn.  

Về thế gian, muốn biết mình có bệnh gì hãy hỏi bác sĩ. Muốn biết bệnh giải thoát của mình là đâu phải cầu tới Phật. Trong kinh Phật dạy, đời mạt pháp căn bệnh về nghiệp chướng của chúng sanh quá nặng không thể giải được nữa, chỉ có niệm Phật, nhờ Phật A-diđà, với bốn mươi tám lời đại nguyện, mới cứu tất cả chúng sanh. Thập phương chư Phật đều đồng thanh lấy pháp môn này để cứu độ và đều hộ niệm cho ta. Một câu chí thành niệm Phật tiêu được tám mươi ức kiếp nghiệp chướng. Chính vì thế mà nghiệp chướng tiêu trừ. Nghiệp chướng tiêu, thì bệnh nghiệp tự tiêu. Cho nên, có người thoát khỏi bệnh nan y là lý do này đó! Tin thì được cứu, không tin không được cứu! Xin cha má suy nghĩ cho kỹ kẻo lỡ cơ hội thì “bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ”! 

… Phải niệm Phật, con đang làm như vậy. Đường con tu hành chỉ có niệm Phật mà thôi. Mỗi sáng con nguyện “Nguyện sinh Tây-phương Tịnh-độ trung, Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu, Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh, Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ”, rồi niệm Phật hoặc sáu chữ (Nam-mô A-di-đà Phật), hoặc niệm bốn chữ (A-di-đà Phật) suốt ngày, đi đâu cũng niệm trong tâm cả. Chiều về trước khi ngủ, con hồi hướng tất cả công đức tu hành về Tây Phuơng, “Nguyện đem công đức này, Trang nghiêm Phật Tịnh-độ, Trên đền bốn ơn nặng, Dưới cứu khổ tam đồ, Nếu có kẻ thấy nghe, Đều phát lòng Bồ-đề, Hết một báo thân này, Đồng sanh Cực-lạc Quốc”. Khi nằm ngủ con thầm niệm Phật cho đến thiếp ngủ luôn. 

Thưa cha má, bắt đầu từ nay ai nói gì nói, ai bàn gì bàn, con một lòng một dạ đi theo con đường niệm Phật. Ai chê, con “A-di-đà Phật”. Ai khen, con “A-di-đà Phật”. Ai chửi, con “A-di-đà Phật”. Ai ghét, con “A-di-đà Phật”. Ai thương, con “A-di-đà Phật”. Làm có tiền, con “A-di-đà Phật”. Không có tiền, con “A-di-đà Phật”… Bất kỳ thời thời, khắc khắc, bất cứ mọi điều kiện, mọi trường hợp con chỉ niệm Phật để trả lời mà thôi. Đây là quyết định không còn thay đổi nữa. Cha má có theo hay không tùy ý cha má. Vì lòng hiếu thảo con đã nói tận tình. Từ sau lá thư này, nếu cha má tin tưởng con nguyện giúp đỡ tối đa về phương tiện tu hành, con sẽ tìm cách gởi về tận nhà cho cha má tu niệm. Còn cha má không tin, thì con cũng vô phương. Nếu có gì bàn tới con xin niệm A-di-đà Phật để trả lời. 

Nam-mô A-di-đà Phật. 

Kính thư

(Viết xong, Úc châu 28/9/00). 

 

Thời mạt pháp muôn ức người tu hành, khó có một người nào được chứng đắc, chỉ nuơng vào pháp niệm Phật mà thoát khỏi luân hồi.

(Lời Phật)

 

 

KHUYÊN NGƯỜI NIỆM PHẬT

Mong tất cả chư vị cùng hiểu thấu vấn đề và nhận thức ra rằng, pháp Niệm-Phật thật sự thù thắng, rất hợp với chúng sanh trong thời mạt pháp này. Còn điểm mạnh của pháp Hộ-Niệm là hướng dẫn chúng ta thực hiện pháp Niệm-Phật một cách đầy đủ, cụ thể, chính xác và kịp thời hóa giải những ách nạn, vượt qua chướng ngại để đi về Tây-Phương Cực-Lạc. Xin chư vị cố gắng giữ thật chặt cơ duyên này để vãng sanh thành tựu đạo quả.

– Cư Sĩ Diệu Âm Minh Trị –